ROCHELLECOUTURE

Tiêu chuẩn kỹ thuật

Đo lường, dung sai & kiểm định tại xưởng: thước, ke, độ phẳng và máy đo độ bóng

Trả lời nhanh

Xưởng đá đảm bảo độ chính xác bằng gì? Bài giải thích bộ dụng cụ đo (thước, mét laser, ke vuông, đường chéo, thước cặp, máy đo độ bóng), mức dung sai chấp nhận được, và quy trình kiểm 100% từng mảnh trước khi đóng kiện - để thợ làm đúng và chủ nhà, kiến trúc sư nghiệm thu đúng.

Bởi Đội ngũ biên tập Rochelle · Đội ngũ biên tập, 10+ năm kinh nghiệm thi công và phân phối đá tự nhiên cao cấp tại Việt Nam✓ Verified 23 tháng 6, 2026Đăng 23 tháng 6, 2026

Cuối xưởng có một cái bàn phẳng kê riêng, mặt thép sạch, không dính bột đá. Tấm đá vừa mài bóng được khiêng đặt lên đó, nước còn rịn ở mép. Người kiểm hàng không vội. Anh trải bản vẽ triển khai (shop drawing) bên cạnh, cầm thước cuộn, cầm ke vuông, rồi đi quanh tấm như đi quanh một bệnh nhân - đo, ghé mắt soi, gõ móng tay, đánh dấu. Tiếng cưa, tiếng máy mài ở khu trong vẫn rít đều, nhưng góc bàn này thì yên, vì đây là chỗ quyết định tấm đá được đóng kiện hay phải quay lại.

Độ chính xác của một mặt bếp, một tấm ốp, một bệ lavabo không sinh ra ở khâu cắt. Nó sinh ra ở chỗ đo. Cắt giỏi mà không đo lại thì sai vẫn lọt; cắt thường mà đo kỹ thì sai bị chặn ngay tại bàn. Bài này kể đúng cái bàn đó: xưởng dùng dụng cụ gì để đo, sai bao nhiêu thì còn chấp nhận được, kiểm thế nào cho không sót mảnh nào, và vì sao ở dự án lớn người ta phải lôi cả máy đo độ bóng ra dùng.

Vì sao phải đo: sai số dồn lại thành khe hở

Một mặt bếp lệch nhẹ so với bản vẽ, đứng riêng nhìn chẳng ai biết. Nhưng khi nó ráp với tủ bếp đã đóng theo đúng kích thước, chỗ lệch đó thành khe hở chạy dọc tường, hoặc thành chỗ kênh không khít. Đá là vật liệu cứng, đã cắt là không co giãn để "ăn gian" như gỗ hay thạch cao. Sai bao nhiêu thì lộ ra bấy nhiêu, và lộ vĩnh viễn.

Nguy hiểm hơn là sai số dồn. Một mạch ghép hơi hở, một cạnh lệch chút, một góc không thật vuông - mỗi cái nhỏ, nhưng cộng lại trên một dãy nhiều tấm thì tấm cuối lệch hẳn khỏi vị trí. Đo lường tại xưởng chính là để chặn từng cái nhỏ đó trước khi chúng dồn thành cái lớn. Đo không phải để soi mói, mà để biết tấm này lắp lên có khít với cái nó phải khít hay không.

Có một nguyên tắc thợ nào cũng thuộc: đo theo bản vẽ triển khai, không đo theo trí nhớ. Bản vẽ là bản hợp đồng giữa xưởng và công trình. Mọi kích thước, mọi vị trí lỗ khoét, mọi hướng vân đều ghi ở đó. Kiểm hàng là đối chiếu tấm đá thật với tờ giấy đó, từng con số một.

Bộ dụng cụ đo trong xưởng

Không cần máy móc đắt tiền để đo đúng. Phần lớn công việc đo ở xưởng làm bằng dụng cụ tay, miễn là dùng đúng cách và đọc đúng. Đây là những thứ luôn nằm trên bàn kiểm:

Thước và mét laser - đo kích thước

Thước cuộn (thước dây) dùng cho cạnh ngắn, kiểm nhanh chiều dài chiều rộng. Với tấm dài hay khoảng cách lớn, người ta dùng mét laser (máy đo khoảng cách laser) vì kéo thước cuộn dài dễ võng, dễ lệch. Mẹo của thợ: luôn đo từ cùng một mốc và đo lại lần hai trước khi tin con số; một lần đo lệch tay hơn cả không đo, vì nó cho cảm giác an tâm giả.

Ke vuông - kiểm góc vuông

Ke vuông (thước ke, square) là cái eke thợ, áp vào góc tấm để xem góc có thật 90 độ không. Ke tốt là ke còn vuông - ke rơi nhiều lần bị lệch cũng cho số sai. Áp ke vào góc, nhìn xem có hở ánh sáng ở chân ke hay đầu ke không: hở đầu thì góc tù, hở chân thì góc nhọn. Ke chỉ kiểm được một góc tại một chỗ, nên với tấm lớn không thể chỉ tin ke - phải kiểm thêm bằng đường chéo.

Kiểm vuông góc bằng đường chéo

Đây là mẹo cũ mà chắc chắn nhất: một tấm hình chữ nhật thật vuông thì hai đường chéo bằng nhau. Đo chéo từ góc này sang góc đối diện, rồi đo chéo còn lại; hai số bằng nhau là tấm vuông, lệch nhau là tấm bị xiên (hình thoi). Cách này hay ở chỗ nó kiểm cả tấm cùng lúc chứ không chỉ một góc, và chỉ cần cây thước, không cần dụng cụ đặc biệt. Tấm càng lớn, đo chéo càng quan trọng vì sai góc nhỏ ở tấm lớn dồn thành lệch lớn ở cạnh.

Ni-vô và thước thẳng - kiểm độ phẳng

Để xem mặt đá có phẳng hay vênh, thợ đặt một cây thước thẳng (thước nhôm cạnh thẳng, straightedge) lằn ngang qua mặt rồi soi đèn từ phía sau: chỗ nào hở sáng dưới thước là chỗ lõm, chỗ nào thước cập kênh là chỗ vồng. Ni-vô (thước thủy, level) thì cho biết mặt có nằm ngang hay nghiêng - quan trọng với mặt bếp, ngưỡng cửa, bậc. Phẳng và ngang là hai chuyện khác nhau: một mặt có thể phẳng tuyệt đối mà vẫn dốc, hoặc nằm ngang mà mặt lồi lõm.

Thước cặp - đo độ dày

Đá tấm bán theo độ dày danh nghĩa 1,5cm, 2cm hay 3cm, nhưng tấm thật thường dao động quanh con số đó. Thước cặp (caliper) kẹp vào mép tấm để biết độ dày thực ở nhiều điểm. Việc này quan trọng khi ghép nhiều tấm cạnh nhau (độ dày lệch thì mặt không phẳng ở mạch), khi làm mép dày ghép mòi, và khi tấm phải định cỡ (calibrate) cho đều dày trước khi lát.

Máy đo độ bóng (gloss meter)

Đây là dụng cụ duy nhất trong nhóm dùng điện. Máy đo độ bóng (gloss meter) chiếu một tia sáng xuống mặt đá ở một góc cố định rồi đo lượng sáng phản chiếu, cho ra một con số độ bóng. Mắt người so độ bóng rất kém - hai tấm chênh nhau một chút, nhìn lẻ thì thấy giống, ghép cạnh nhau dưới ánh đèn mới lòi ra tấm sáng tấm mờ. Máy cho con số khách quan để các tấm cùng một đơn hàng đạt độ bóng đồng đều. Phần sau bài nói kỹ chỗ này.

Kiểm vuông góc tấm chữ nhậtHai đường chéo bằng nhauChéo lệch nhau là tấm bị xiên (hình thoi); cách này kiểm cả tấm, không chỉ một góc như ke

Dung sai: sai bao nhiêu thì còn chấp nhận được

Không có tấm đá nào chính xác tuyệt đối, và đòi tuyệt đối là đòi điều không tồn tại. Nghề đá làm việc với dung sai - khoảng sai số cho phép mà sản phẩm vẫn đạt. Hiểu dung sai giúp thợ biết khi nào sửa, khi nào thôi, và giúp chủ nhà biết khi nào nên bắt lỗi, khi nào đang bắt bẻ điều bất khả thi. Dung sai cụ thể nên tra theo bảng của Natural Stone Institute (Dimension Stone Design Manual); dưới đây là cách hiểu các nhóm dung sai chính.

Lệch kích thước (chiều dài, chiều rộng)

Sai số chiều dài, chiều rộng cho phép theo mm, và mức cho phép tùy kích thước tấm: tấm càng lớn, dung sai tuyệt đối thường càng rộng hơn một chút, vì đo và cắt trên tấm lớn khó khít từng milimet như tấm nhỏ. Điều quan trọng không phải tấm lệch mấy mm, mà là tấm có lắp khít với cái nó phải ghép vào không. Một tấm lệch nhẹ nhưng nằm trong dung sai và vẫn khít mạch thì đạt; một tấm đúng số nhưng đặt vào không khít thì vẫn phải xem lại.

Khe mạch ghép

Hai tấm ghép cạnh nhau để lại một khe mạch (joint). Khe này cần đều suốt chiều dài chứ không phải càng hẹp càng tốt: một khe mảnh mà đều tăm tắp trông gọn hơn nhiều một khe lúc sát lúc hở. Dung sai ở đây là độ đều của khe và độ chênh mặt giữa hai tấm (lippage), chứ không chỉ là bề rộng khe. Khe răng cưa, chỗ rộng chỗ hẹp, là dấu hiệu cắt không thẳng hoặc tấm không vuông.

Độ phẳng và lippage (chênh mặt ở mạch)

Độ phẳng là độ vồng lõm trên một mặt tấm. Lippage là chênh cao giữa hai tấm tại mạch ghép - chỗ tấm này nhô lên cao hơn tấm kia, vuốt tay qua thấy gờ. Lippage là lỗi dễ thấy và dễ chịu nhất ở mặt sàn, mặt bếp vì tay người vuốt qua là biết ngay. Dung sai lippage thường rất khắt khe (tính bằng phần milimet), và nó phụ thuộc cả vào độ dày tấm có đều không lẫn vào mặt nền lắp có phẳng không.

Những lỗi định tính - không đo bằng số

Có những thứ không có con số dung sai mà phải nhìn và sờ: mép có sứt mẻ không, finish có đồng đều không, vân có đúng hướng bản vẽ không, mạch ghép có lìa móng tay vướng không, màu giữa các tấm có ăn nhau không. Đây là dung sai định tính, đánh giá bằng mắt và tay của người có nghề. Vì thế bộ tiêu chí kiểm hàng phải gồm cả phần đo bằng số lẫn phần nhìn - sờ, hai phần bù cho nhau.

Tra dung sai cụ thểTheo NSI / Dimension Stone Design ManualDung sai kích thước, độ phẳng, khe mạch, lippage có bảng riêng; tra bảng thay vì nhớ ước lượng
Độ dày tấm danh nghĩa1,5 / 2 / 3 cmĐộ dày thực dao động quanh con số danh nghĩa; đo bằng thước cặp ở nhiều điểm

Quy trình kiểm 100% trước khi đóng kiện

Ở xưởng làm bài bản, không tấm nào ra cửa mà chưa qua bàn kiểm. Kiểm 100% nghĩa là kiểm từng mảnh, không kiểm xác suất - vì một tấm lỗi lọt ra công trình thì chi phí gỡ và làm lại lớn hơn nhiều lần công kiểm. Trình tự kiểm thường đi như sau:

  1. Đối chiếu bản vẽ triển khai từng mảnh: lấy đúng tờ shop drawing của mảnh đó, kiểm mã số mảnh, kiểm đây có đúng là tấm cần cho vị trí đó không.
  2. Đo kích thước: chiều dài, chiều rộng, đo lại lần hai; với tấm chữ nhật đo thêm hai đường chéo để kiểm vuông góc.
  3. Đo độ dày: kẹp thước cặp ở vài điểm, nhất là ở mép sẽ ghép với tấm khác.
  4. Kiểm lỗ và mép khoét: vị trí và kích thước lỗ vòi, lỗ khoét chậu, hốc - đối chiếu tọa độ trên bản vẽ.
  5. Kiểm độ phẳng: lằn thước thẳng qua mặt, soi đèn xem hở sáng; đặt ni-vô nếu cần biết phương ngang.
  6. Soi vân và finish: xem hướng vân đúng bản vẽ không, finish (bóng / mài mờ / nhám) có đồng đều khắp tấm và đồng với các tấm cùng bộ không; ở dự án lớn đo độ bóng bằng máy.
  7. Soi mép và bề mặt: rọi đèn xiên tìm mép sứt, vết xước, lỗ rỗ chưa trám, mạch ghép lộ.
  8. Đánh dấu đạt / lỗi: tấm đạt đánh dấu và ghi mã; tấm lỗi tách riêng, ghi rõ lỗi gì để sửa hoặc cắt lại, không để lẫn vào hàng đạt.

Một chi tiết nhỏ mà quan trọng: kiểm dưới ánh sáng đủ và đúng. Bụi đá phủ mờ mặt làm giấu cả vết xước lẫn độ bóng thật, nên lau sạch tấm trước khi kiểm. Soi đèn xiên (rọi chếch ngang mặt) là cách lộ lỗi tốt nhất - vết xước, gờ lippage, mạch ghép, chỗ mài chưa tới đều hiện ra dưới ánh sáng nghiêng mà ánh sáng thẳng giấu đi.

Vì sao dự án lớn phải đo độ bóng bằng máy

Một tấm đá nhìn lẻ thấy bóng đẹp là chuyện thường. Nhưng một sảnh lát hàng trăm mét vuông, hay một mặt tiền ốp nhiều tầng, thì cái mắt người ta bắt được không phải độ bóng của một tấm - mà là sự chênh lệch độ bóng giữa các tấm cạnh nhau. Tấm sáng kế tấm mờ tạo thành loang lổ dưới ánh đèn, và một khi đã lắp lên thì không sửa được nữa ngoài việc gỡ ra mài lại.

Mắt người so độ bóng tuyệt đối rất kém - ta giỏi so hai vật kề nhau, nhưng kém nhớ độ bóng của tấm hôm qua để so với tấm hôm nay. Máy đo độ bóng (gloss meter) cho mỗi tấm một con số, và xưởng đặt ngưỡng: các tấm trong cùng đơn phải nằm trong một dải số quanh nhau. Tấm nào lệch ngoài dải thì mài lại cho tới khi vào dải. Nhờ vậy cả mảng đá lắp lên đồng một độ bóng, không loang.

Vì sao công trình nhỏ ít cần máy? Vì diện tích nhỏ, ít tấm, mắt còn kiểm xuể và sai lệch ít có chỗ phơi ra. Càng nhiều tấm, càng nhiều mạch, càng nhiều ánh sáng chiếu chéo thì máy đo càng đáng tiền - nó biến một việc cảm tính thành một con số đối chiếu được, và con số đó vào được phiếu nghiệm thu.

Lưu ý đọc số: độ bóng đo ở một góc chiếu cố định, nên khi so phải so cùng kiểu máy, cùng góc đo. So một con số đo máy này với một con số đo máy kia kiểu khác là so hai thứ không cùng thang. Điều này cũng đúng khi kiến trúc sư ghi yêu cầu độ bóng vào spec - nên ghi rõ đo theo chuẩn nào.

Đo độ bóng bằng máyCùng góc đo, theo dải ngưỡngMỗi tấm một con số; tấm lệch ngoài dải thì mài lại; quan trọng ở dự án nhiều tấm để tránh loang

Đánh số và hồ sơ nghiệm thu

Đo xong rồi phải ghi lại, nếu không thì kiểm rồi cũng như không. Mỗi mảnh đá có mã số riêng khớp với bản vẽ triển khai - mã đó viết lên mặt sau tấm hoặc dán nhãn, để ở công trình thợ lắp biết tấm nào vào vị trí nào, lắp đúng thứ tự vân. Đánh số sai hay không đánh số là nguồn gốc của cảnh "tấm đẹp lắp nhầm chỗ, vân không nối".

Hồ sơ nghiệm thu (QC) gồm hai phần quen thuộc:

  • Ảnh chụp: chụp từng mảnh hoặc cả bộ đã xếp, chụp rõ mạch ghép, vân nối, mép, finish - để cả xưởng lẫn khách có bằng chứng tình trạng tấm lúc xuất xưởng.
  • Phiếu QC: ghi mã mảnh, kích thước đo được, kết quả kiểm vuông góc / độ phẳng / finish, độ bóng (nếu đo máy), người kiểm và ngày. Đạt thì ký, lỗi thì ghi rõ và cho đi sửa.

Hồ sơ này không phải thủ tục giấy tờ cho có. Nó là chỗ dựa khi có tranh cãi: tấm hỏng ở công trình do vận chuyển hay do xuất xưởng đã lỗi? Ảnh và phiếu QC trả lời được. Nó cũng giúp xưởng nhìn lại lỗi hay lặp ở khâu nào để sửa quy trình. Với chủ nhà và kiến trúc sư, bộ hồ sơ này là cái để nghiệm thu trên giấy trước khi nghiệm thu bằng mắt tại công trình.

Lỗi thường gặp khi đo - triệu chứng, nguyên nhân, xử lý

Đo sai nguy hiểm hơn không đo, vì nó cho niềm tin giả. Đây là những lỗi đo hay gặp ở xưởng và cách chặn:

Đo thiếu khe mạch

Triệu chứng: các tấm xếp lại không đủ chỗ, mạch bị bóp sát hoặc tấm cuối thừa ra. Nguyên nhân: khi đo và cắt quên trừ bề rộng khe mạch giữa các tấm, tính như thể đá ghép sát không khe. Xử lý: luôn cộng khe mạch vào tính toán bố trí từ đầu; thống nhất bề rộng khe với bản vẽ trước khi cắt, không để mỗi mạch một kiểu.

Không kiểm vuông góc, chỉ tin một góc

Triệu chứng: tấm đo cạnh đúng số nhưng lắp lên bị xiên, mạch hở hình nêm. Nguyên nhân: chỉ áp ke một góc rồi tin cả tấm vuông, trong khi tấm bị lệch thành hình thoi. Xử lý: với tấm chữ nhật luôn đo thêm hai đường chéo; chéo bằng nhau mới chắc tấm vuông.

Đo độ bóng không đồng - kiểm bằng mắt

Triệu chứng: lắp cả mảng xong mới thấy chỗ sáng chỗ mờ loang lổ. Nguyên nhân: so độ bóng bằng mắt từng tấm rời, không có chuẩn chung; tấm mài ở các thời điểm hoặc tay thợ khác nhau cho nước bóng khác nhau. Xử lý: ở dự án nhiều tấm, đo độ bóng bằng máy theo một dải ngưỡng; tấm lệch dải mài lại trước khi xuất.

Đo trên mặt bẩn, thiếu sáng

Triệu chứng: tấm "đạt" ở xưởng nhưng ra công trình mới thấy xước, rỗ, mạch lộ. Nguyên nhân: bụi đá phủ mờ mặt và ánh sáng thẳng giấu lỗi lúc kiểm. Xử lý: lau sạch tấm, kiểm dưới ánh sáng đủ và soi đèn xiên để lộ vết.

Đo một lần, không đo lại

Triệu chứng: một tấm sai số lọt qua dù xưởng có kiểm. Nguyên nhân: tin lần đo đầu, đọc lệch vạch hoặc đặt mốc sai. Xử lý: đo lại lần hai mọi kích thước quan trọng; với cắt, theo nguyên tắc đo hai lần cắt một lần.

Tiêu chí QC - bảng kiểm gọn cho từng mảnh

Một bộ tiêu chí nghiệm thu gọn, dùng được cả cho thợ kiểm lẫn cho chủ nhà, kiến trúc sư khi nhận hàng:

  • Đúng bản vẽ: mã mảnh khớp shop drawing, đây đúng là tấm cho vị trí đó.
  • Kích thước trong dung sai: dài, rộng đo đạt; đo hai lần.
  • Vuông góc: với tấm chữ nhật, hai đường chéo bằng nhau.
  • Độ dày đều: đo nhiều điểm, nhất là mép sẽ ghép tấm khác.
  • Phẳng: lằn thước thẳng, soi đèn không thấy hở lõm đáng kể; mạch không lippage.
  • Lỗ và khoét đúng vị trí: lỗ vòi, lỗ chậu, hốc khớp tọa độ bản vẽ.
  • Finish đồng đều: bề mặt đồng một kiểu hoàn thiện, và đồng với các tấm cùng bộ; dự án lớn có số đo độ bóng.
  • Vân đúng hướng và nối được: hướng vân theo bản vẽ; với bộ ghép, vân nối qua mạch.
  • Mép và bề mặt sạch lỗi: không sứt mẻ, không xước, lỗ rỗ đã trám; mạch ghép lìa móng tay không vướng.
  • Có hồ sơ: ảnh chụp và phiếu QC ghi mã, số đo, người kiểm, ngày.
Nguyên tắc cắtĐo hai lần, cắt một lầnĐo lại trước khi cắt và trước khi đóng kiện; sai số dồn thành khe hở không sửa được

Rochelle tự nhiên là đơn vị phân phối và gia công đá tự nhiên cao cấp, nên với những đơn hàng nhiều tấm - sảnh lát, mặt tiền ốp, bộ ghép vân - khâu đo lường và kiểm 100% từng mảnh được làm tại bàn kiểm trước khi đóng kiện, kèm đánh số và hồ sơ QC để tấm nào ra công trình cũng lắp đúng chỗ, đúng vân và đồng độ bóng.

Key facts

  • Độ chính xác sinh ra ở khâu đo, không phải khâu cắt; sai số dồn lại thành khe hở không sửa được vì đá không co giãn để ăn gian.
  • Cách chắc nhất kiểm vuông góc tấm chữ nhật là đo hai đường chéo: bằng nhau là vuông, lệch nhau là xiên thành hình thoi.
  • Bộ dụng cụ đo cơ bản gồm thước và mét laser, ke vuông, thước thẳng và ni-vô, thước cặp đo độ dày, và máy đo độ bóng cho dự án lớn.
  • Đá tấm danh nghĩa dày 1,5 / 2 / 3 cm nhưng độ dày thực dao động quanh con số đó, nên phải đo bằng thước cặp ở nhiều điểm.
  • Dung sai gồm lệch kích thước theo mm tùy kích thước, độ đều khe mạch, độ phẳng, lippage, cùng các lỗi định tính - tra cụ thể theo NSI / Dimension Stone Design Manual.
  • Xưởng bài bản kiểm 100% từng mảnh trước khi đóng kiện: đối chiếu bản vẽ, đo kích thước, đường chéo, độ dày, lỗ khoét, độ phẳng, vân và finish, rồi đánh dấu đạt hoặc lỗi.
  • Mắt người so độ bóng tuyệt đối kém, nên dự án nhiều tấm dùng máy đo độ bóng để các tấm đồng một dải bóng, tránh loang lổ khi lắp.
  • Hồ sơ nghiệm thu gồm ảnh chụp và phiếu QC ghi mã mảnh, số đo, kết quả kiểm và người kiểm - làm bằng chứng và chỗ dựa khi tranh cãi nguồn lỗi.
  • Soi đèn xiên trên mặt đá đã lau sạch là cách lộ vết xước, gờ lippage, mạch ghép và chỗ mài chưa tới tốt hơn ánh sáng thẳng.

Nguồn dẫn

  1. Natural Stone InstituteNatural Stone Institute
  2. Dimension Stone Design ManualNatural Stone Institute

Câu hỏi thường gặp

Tóm gọn nhanh

Q: Xưởng đá đảm bảo độ chính xác bằng gì?

A: Bằng đo lường và kiểm 100% trước khi đóng kiện: thước và mét laser đo kích thước, ke vuông và đường chéo kiểm vuông góc, thước thẳng và ni-vô kiểm độ phẳng, thước cặp đo độ dày, và máy đo độ bóng cho dự án lớn - đối chiếu từng mảnh với bản vẽ triển khai.

Q: Làm sao kiểm tấm đá có vuông góc không?

A: Cách chắc nhất là đo hai đường chéo của tấm chữ nhật: hai chéo bằng nhau thì tấm vuông, lệch nhau là tấm bị xiên thành hình thoi. Ke vuông chỉ kiểm được một góc nên với tấm lớn phải kiểm thêm bằng đường chéo.

Q: Dung sai trong gia công đá là gì?

A: Là khoảng sai số cho phép mà tấm vẫn đạt, gồm lệch kích thước theo mm tùy kích thước tấm, độ đều khe mạch, độ phẳng, độ chênh mặt ở mạch (lippage), cùng các lỗi định tính như sứt mép, finish, vân. Dung sai cụ thể tra theo NSI / Dimension Stone Design Manual.

Q: Lippage là gì?

A: Là độ chênh cao giữa hai tấm tại mạch ghép - chỗ tấm này nhô cao hơn tấm kia, vuốt tay qua thấy gờ. Đây là lỗi dễ thấy ở mặt sàn và mặt bếp, phụ thuộc cả độ dày tấm có đều lẫn mặt nền lắp có phẳng.

Q: Vì sao dự án lớn phải đo độ bóng bằng máy?

A: Vì mắt người so độ bóng tuyệt đối rất kém, nhiều tấm ghép cạnh nhau dễ loang lổ chỗ sáng chỗ mờ. Máy đo độ bóng cho mỗi tấm một con số để các tấm cùng đơn đạt một dải bóng đồng đều; tấm lệch ngoài dải thì mài lại trước khi xuất.

Q: Quy trình kiểm đá tại xưởng gồm những bước nào?

A: Đối chiếu bản vẽ từng mảnh, đo kích thước và đường chéo, đo độ dày, kiểm lỗ khoét, kiểm độ phẳng, soi vân và finish (đo độ bóng nếu dự án lớn), soi mép tìm sứt xước, rồi đánh dấu đạt hoặc tách riêng tấm lỗi - kèm ảnh và phiếu QC.

Q: Vì sao phải đánh số từng tấm đá?

A: Để mã tấm khớp với bản vẽ triển khai, thợ ở công trình lắp đúng tấm vào đúng vị trí và đúng thứ tự vân. Không đánh số dễ dẫn đến lắp nhầm chỗ làm vân không nối.

Q: Lỗi đo lường hay gặp nhất khi gia công đá là gì?

A: Đo thiếu khe mạch nên tấm xếp không đủ chỗ, chỉ tin một góc mà không kiểm đường chéo, so độ bóng bằng mắt nên lắp lên loang lổ, và đo trên mặt bẩn thiếu sáng nên xước rỗ lọt qua. Cách chặn là đo hai lần, đo chéo, đo bóng bằng máy ở dự án lớn, và lau sạch soi đèn xiên khi kiểm.

Cần tư vấn cụ thể cho dự án?

Có dự án thực tế? Mẫu đá thật + đội kỹ thuật của Rochelle sẵn sàng tư vấn.

Liên hệ Rochelle