ROCHELLECOUTURE
Bề mặt khối vuông thô (Rough Cobble Grid) — hiệu ứng bề mặt trên đá tự nhiên, Rochelle Stone
TEXTURE+

Bề mặt khối vuông thô

Rough Cobble Grid (textured setts)

Bề mặt khối vuông thô là kiểu gia công xẻ mặt phiến đá thành lưới khối vuông cỡ 6-8 cm rồi làm sần đỉnh từng khối, cho ra hình ảnh một khoảnh sân lát đá cổ nhưng thực chất vẫn là phiến đá liền, không viên nào rời ra được. Khe sâu cộng đỉnh sần cho độ bám chân tốt kể cả khi mặt ướt.

Thuộc nhóm khắc nổi hoa văn

Bề mặt này gộp hai việc: xẻ mặt đá thành một lưới khối vuông đều nhau, rồi làm sần đỉnh từng khối. Kết quả nhìn đúng như một khoảnh sân lát đá kiểu cổ - từng viên vuông cỡ 6-8cm, mặt ráp, khe giữa các viên tối và sâu - nhưng thực chất vẫn là một phiến đá liền, không viên nào rời ra được. Khe sâu và đỉnh sần cùng tạo bóng đổ mạnh nên mảng đá này rất "nặng" về thị giác: đặt đúng chỗ thì rất chắc, đặt sai chỗ thì lấn hết nội thất. Điểm mạnh với người thi công là bỏ được rủi ro của sân lát viên rời: không mạch xi măng để nứt, không viên nào bật lên riêng lẻ, và nhịp viên vẫn đọc liên tục qua cả tấm lớn. Nhưng đừng hiểu thành "không bao giờ lún" - tấm đá lớn vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào lớp nền: ngoài trời phải có nền bê tông ổn định, lớp vữa/keo đúng loại ngoài trời và khe co giãn, nếu không thì nền lún là tấm nứt. Đỉnh khối sần cộng khe sâu cho độ bám chân rất tốt, kể cả khi mặt ướt, nên đây là lựa chọn hợp cho lối đi bộ dễ ướt. Nên chọn đá cứng: granite, basalt, quartzite và limestone loại đặc giữ được mép khe gọn và đỉnh sần bền - mẫu gốc chạy trên một phiến đá xanh họ granite. Đá mềm hoặc nhiều mạch canxit thì mép khe dễ vỡ thành vệt răng cưa, và những khối rơi vào mạch mềm sẽ bị đục lõm sâu hơn phần còn lại. Travertine nhiều lỗ thì lỗ và khe lẫn vào nhau, mất nhịp lưới - nếu vẫn muốn dùng thì phải làm mẫu duyệt trước. Đúng chỗ của nó là ngoài trời: sân, lối đi bộ, khu quanh hồ, mặt tiền tầng đế, và những mảng tường thô cần chất nặng. Hai lưu ý thực tế: khe sâu sẽ đọng nước và bụi nên sàn phải có độ dốc thoát và phải chải định kỳ, ngoài trời thì thêm rêu vào mùa mưa; và đừng dùng trong nhà nơi đi chân trần - đỉnh sần cộng khe sâu là ráp và dễ vấp. Mặt bàn thì loại khỏi danh sách ngay từ đầu.

Dòng đá liên quan: Đá Travertine · Đá Granite · Đá Quartzite · Đá Limestone

Yêu cầu thông tin
Technical cardFile 3DFile 2D

Khối vuông mặt sần, khe sâu như sân đá lát cổ

Thông số & cách dùng

Độ nổi
Khe xẻ sâu 5-10 mm; đỉnh khối sần thêm 1-3 mm
Độ dày tấm tối thiểu
30 mm cho sân và lối đi bộ; 40-50 mm nếu có xe chạy qua
Chống trượt
Ước tính R12-R13 (DIN 51130); chân trần vùng ướt đạt nhóm C
Bảo trì
Chải khe bằng chổi cứng và xịt nước áp lực vừa khoảng 2-3 lần mỗi năm, dày hơn vào mùa mưa vì khe sâu là chỗ rêu bám trước tiên. Sàn phải làm dốc thoát nước 1-2% ngay từ khi thi công; nếu đã đọng nước thì mọi cách vệ sinh cũng chỉ chữa phần ngọn.

Con số lấy theo mức thường gặp của granite và basalt băm nhám ngoài trời: R12 tương ứng góc trượt 27-35 độ trên máng nghiêng, nhóm C là mức cao nhất cho vùng ướt đi chân trần. Đây là ước tính tham khảo - mỗi phiến đá và mỗi độ sần cho kết quả khác nhau, hồ sơ dự án yêu cầu thì phải thử nghiệm trên mẫu thật.

Nên dùng ở

  • Sân trước, sân sau và lối đi bộ ngoài trời
  • Lối dạo và sân quanh hồ bơi, khu vực hay ướt (đi dép)
  • Mặt tiền tầng đế và chân tường ngoài nhà
  • Mảng tường thô cần chất nặng trong sảnh, quán, showroom
  • Bậc thềm và chiếu nghỉ ngoài trời
  • Dốc dắt xe máy, đường dốc thoải

Nên tránh ở

  • Sàn trong nhà nơi đi chân trần - đỉnh sần ráp, mép khe dễ vấp
  • Mặt bàn bếp, bàn đảo, bệ chậu rửa
  • Lối có xe đẩy hành lý, xe lăn hoặc bánh nhỏ
  • Sàn phòng tắm trong nhà - khe sâu đọng nước, khó lau

Đá phù hợp

  • Granite, nhất là dòng xanh - xám hạt đều (mẫu gốc chạy trên đá họ granite)
  • Basalt - hạt mịn, chịu mài mòn ngoài trời tốt
  • Quartzite - rất đặc, mép khe giữ gọn
  • Limestone loại đặc, ít lỗ

Đá nên tránh

  • Travertine (lỗ tự nhiên lẫn vào khe, mất nhịp lưới - muốn dùng phải làm mẫu duyệt trước)
  • Marble mềm hoặc nhiều mạch canxit (mép khe vỡ thành vệt răng cưa)
  • Sandstone bở (đỉnh sần mòn nhanh, vài mùa là phẳng lại)
  • Onyx (giòn và không hợp môi trường ngoài trời)

Dễ nhầm với

Băm nhám hạt to chỉ làm ráp đều toàn mặt chứ không chia ô, còn khối vuông thô có thêm lưới khe sâu nên đọc rõ từng viên và bám chân tốt hơn hẳn. Ô vuông ghép và ô vuông vát cạnh cũng chia ô nhưng khe nông, lòng ô phẳng hoặc chỉ nhám nhẹ, dành cho mặt đứng chứ không chịu được sân ngoài trời.

Khám phá thêm

Câu hỏi thường gặp về bề mặt khối vuông thô

Xe ô tô chạy lên bề mặt khối vuông thô được không?

Được nếu tính đúng: tấm dày tối thiểu 40-50 mm, nền bê tông có cốt thép, lớp keo hoặc vữa ngoài trời trải kín mặt sau chứ không dán chấm. Phải đo chiều dày còn lại ở đáy khe chứ đừng lấy chiều dày danh nghĩa. Với lối chỉ đi bộ thì 30 mm là đủ.

Sân bề mặt khối vuông thô có bị rêu bám trong khe không?

Có, khe sâu 5-10 mm là chỗ rêu bám trước tiên, nhất là mảng khuất nắng vào mùa mưa. Cách xử lý là làm dốc thoát nước 1-2% ngay khi thi công và chải khe bằng chổi cứng 2-3 lần mỗi năm. Chỗ nào đọng nước thường xuyên thì rêu sẽ quay lại dù vệ sinh kỹ.

Đi chân trần trên bề mặt khối vuông thô có đau không?

Có, khá ráp. Đỉnh khối được làm sần cộng với khe sâu khiến lòng bàn chân cấn và mũi chân dễ vấp mép khe. Đây là bề mặt dành cho người đi giày dép ngoài trời. Nếu cần chất đá thô ở khu vực chân trần, hãy chọn một bề mặt băm nhám hạt mịn phẳng hơn.

Kích thước khối vuông của bề mặt khối vuông thô có đổi được không?

Đổi được, vì lưới khe do máy xẻ theo bản vẽ. Mẫu gốc chạy khối 6-8 cm cho ra đúng nhịp sân đá cổ; khối 10-12 cm nhìn thưa và hiện đại hơn, hợp mảng lớn. Khối dưới 5 cm thì tổng mét dài đường xẻ tăng vọt, giá gia công lên theo và mép khe dễ sứt hơn.