
Mosaic Grid Relief (square block effect)
Bề mặt ô vuông ghép là hoa văn khắc trực tiếp trên một phiến đá liền, cho ra hình ảnh một mảng tường xếp từ hàng nghìn viên vuông nhỏ cỡ đầu ngón tay. Không có viên nào thật: khe chỉ là rãnh mảnh xẻ hai chiều vuông góc, sâu 2–4 mm, còn đỉnh mỗi ô được mài hơi vồng để bắt sáng ở giữa.
Thuộc nhóm khắc nổi hoa văn
Nhìn thoáng thì đây là một mảng tường ghép từ vô số viên vuông nhỏ cỡ đầu ngón tay, xếp hàng ngang hàng dọc thẳng thớm. Nhưng không có viên nào cả: tất cả được khắc trực tiếp trên một phiến đá liền, các khe chỉ là rãnh mảnh xẻ hai chiều vuông góc. Đỉnh mỗi ô được mài hơi vồng nên bắt sáng ở giữa, tối dần về khe - chính chỗ vồng đó là thứ làm mảng tường mềm và có nhịp thay vì phẳng cứng. Với người thi công, đây là điểm bán mạnh nhất: không mạch keo, không lo bong viên, không lo mạch đen theo thời gian, và vân đá gốc vẫn chạy liên tục xuyên qua các ô - điều mà tường ghép viên nhỏ thật không bao giờ làm được. Ốp cả một mảng lớn, mắt vẫn đọc được vân đá chạy suốt, chỉ thêm một lớp nhịp hình học lên trên. Marble, limestone, travertine loại đặc và onyx là những loại chạy dễ nhất, cho mép ô sạch - mẫu gốc được làm trên marble trắng Ý và ô nào ra ô đó. Đá quá giòn hoặc nhiều mạch canxit mềm dễ sứt góc ô, mà ô nhỏ thì mỗi góc sứt là thấy ngay, nên phải làm mẫu duyệt. Travertine nhiều lỗ thì lỗ rơi vào giữa ô sẽ thành khuyết điểm rõ; nếu chọn travertine thì nên chọn loại lỗ nhỏ và đã trám. Chỗ dùng đẹp là tường điểm nhấn, mặt tiền, tường phòng tắm và các mảng tường khu ẩm - độ nổi nông nên nước chỉ chảy theo khe xuống, không đọng. Khi bố cục phải nhớ canh ô qua mối nối giữa các tấm: nếu không tính từ bản vẽ, chỗ nối sẽ lộ một hàng ô lệch nhịp rất khó chữa. Vệ sinh dễ hơn tường ghép viên thật vì không có mạch xi măng, nhưng vẫn có khe nên dùng bàn chải mềm thay vì chỉ lau khăn.
Dòng đá liên quan: Đá Travertine → · Đá Marble → · Đá Onyx → · Đá Limestone →
Yêu cầu thông tinCả mảng tường như xếp từ hàng nghìn viên vuông nhỏ
Nếu buộc phải lát sàn khô trong nhà thì khe 3 mm có cho thêm chút bám, nhưng đỉnh ô mài vồng lại nhẵn nên tổng thể không hơn mặt mài mờ là bao. Sàn ướt dùng chung cần R11–R12 hoặc nhóm B–C thì phải chọn kiểu bề mặt khác, đừng cố dùng kiểu này.
Nên dùng ở
Nên tránh ở
Đá phù hợp
Đá nên tránh
Ô vuông vát cạnh chỉ vát mép nên đỉnh ô vẫn phẳng, nhịp gọn và hiện đại hơn; ô vuông ghép mài vồng đỉnh nên mảng tường mềm, có nhịp sáng tối và giống tường mosaic thật hơn. Khối vuông thô nổi cao hẳn và để mặt nham nhở, chất thô mộc chứ không mịn. Ô vuông đan hướng thì các ô đảo hướng theo nhóm, còn kiểu này giữ một hướng đều suốt mảng.
Thay được và thường tốt hơn ở mảng lớn: không mạch keo nên không lo bong viên hay mạch đen theo thời gian, và vân đá gốc chạy liên tục xuyên qua các ô — điều tường ghép viên rời không bao giờ làm được. Đổi lại bạn không phối được nhiều màu viên, cả mảng buộc phải cùng một phiến đá.
Cỡ thông dụng là 15–30 mm mỗi cạnh, khe rộng 2–3 mm — đúng tầm để từ ba mét mắt vẫn đọc ra nhịp ô mà không thấy rối. Ô nhỏ dưới 15 mm thì góc ô dễ sứt và mảng tường trông như vải; ô lớn trên 40 mm thì mất cảm giác mosaic, thành một mảng chia ô đơn thuần.
Không. Khe chỉ sâu 2–4 mm và xẻ thông cả hai chiều nên nước chảy thẳng xuống theo khe dọc, không có hố kín để đọng lại. Cái phải lo là cặn xà phòng và dầu gội bám dọc mép khe ở khu tắm đứng — chải mềm mỗi tuần một lần là đủ, để lâu mới phải dùng dung dịch tẩy cặn nhẹ.
Không, và đó là điểm mạnh lớn nhất của kiểu này. Vì cả mảng khắc từ một phiến liền, vân đá đi xuyên qua khe và nối thẳng sang ô kế tiếp, mắt vẫn đọc được đường vân chạy suốt mảng tường, chỉ có thêm một lớp nhịp hình học phủ lên trên. Tường ghép viên rời thì mỗi viên là một mảnh vân rời rạc.