
Scored (even incised grooves)
Bề mặt rãnh chìm đều là mặt đá phẳng được xẻ những rãnh thẳng song song cách đều nhau, rãnh hẹp 2–4 mm và sâu 3–5 mm, còn dải đá giữa hai rãnh vẫn phẳng nguyên. Nhờ mặt phẳng giữ nguyên, bề mặt rãnh chìm đều là kiểu hiếm trong nhóm kẻ rãnh dùng được cho sàn.
Thuộc nhóm cắt rãnh & tiện gân
Một mặt đá phẳng, trên đó xẻ những rãnh thẳng song song cách nhau đều. Khác với kiểu nan tròn: ở đây dải đá giữa hai rãnh vẫn phẳng nguyên, rãnh thì hẹp và mép gọn - cảm giác kỹ thuật, dứt khoát, gần với kim loại gia công hơn là với vải vóc. Cũng khác kiểu kẻ khe mảnh: ở đó dải đá rộng gấp đôi và khe chỉ là một vạch tối lẫn vào mặt phẳng, còn ở đây nhịp rãnh dày hơn nên cả mảng đá đọc thành sọc. Vì mặt vẫn phẳng nên bề mặt này ứng xử tốt khi có người đi lên: rãnh cắt dòng nước và cho chân điểm bám, mà bàn chân vẫn tiếp xúc với mặt đá liền chứ không đè lên các gờ. Nếu công trình cần một chỉ số chống trượt để nộp hồ sơ thì vẫn phải thử chính mẫu đá đó, vì cùng cách gia công mỗi loại đá cho một kết quả khác nhau. Bóng trong rãnh cho ra một loạt vạch tối rất đều, giúp mảng đá lớn không bị chết phẳng mà cũng không ồn ào. Xẻ rãnh là việc mà đá cứng làm tốt nhất: quartzite, granite, basalt, marble đặc đều cho mép rãnh nét và giữ nét lâu. Đá vôi mềm và travertine nhiều lỗ dễ vỡ mép; muốn dùng thì nên nới rộng rãnh, làm nông hơn và chấp nhận mép hơi mộc. Dùng được cả trong lẫn ngoài: tường, mặt tiền, bậc thang, và sàn ở những chỗ cần bám như dốc, lối vào, quanh hồ. Khi lát sàn nên cho rãnh chạy theo chiều nước chảy để nước không đứng lại trong rãnh. Chỗ duy nhất nên tránh là mặt bàn ăn và bàn bếp - rãnh hẹp giữ vụn, rất khó lau.
Dòng đá liên quan: Đá Travertine → · Đá Marble → · Đá Granite → · Đá Quartzite → · Đá Limestone →
Yêu cầu thông tinRãnh thẳng đều trên mặt phẳng, dứt khoát và bám chân
Rãnh sâu 3–5 mm cắt màng nước và cho chân điểm bám, ước tính quanh R11 theo DIN 51130 khi đi giày. Cùng cách xẻ nhưng mỗi loại đá cho kết quả khác nhau, hồ sơ cần cấp cụ thể thì phải đo trên chính mẫu đã gia công.
Nên dùng ở
Nên tránh ở
Đá phù hợp
Đá nên tránh
Kẻ chỉ thưa có dải đá rộng gấp đôi và khe chỉ là một vạch tối lẫn vào mặt phẳng, còn rãnh chìm đều nhịp dày hơn nên cả mảng đọc thành sọc. Kẻ chỉ nhám để mép thô và rãnh sát nhau, cho cảm giác thớ vải; rãnh chìm đều mép gọn, cảm giác kỹ thuật. Gân sọc song song là gân nổi, không lát sàn được.
Rãnh sâu 3–5 mm cắt được màng nước và cho gót chân điểm tì, ước tính quanh R11 theo DIN 51130 — đủ cho lối vào, chiếu nghỉ và dốc thoải. Con số này thay đổi theo loại đá và độ nhám dải phẳng giữa các rãnh, nên hồ sơ yêu cầu cấp cụ thể thì phải gửi chính mẫu đá đó đi đo.
Với rãnh rộng 2–4 mm thì không: gót nhọn tiêu chuẩn khoảng 8–10 mm, bánh va li 40–50 mm, đều bắc qua rãnh dễ dàng. Vấn đề chỉ xảy ra khi xưởng nới rãnh lên trên 6 mm, hoặc khi có xe đẩy bánh nhỏ dưới 30 mm. Chỗ nhiều xe đẩy thì cho rãnh chạy cùng hướng đi.
Cho rãnh chạy theo chiều nước chảy, tức dọc theo độ dốc về phía thu nước, để nước không đứng lại trong rãnh. Nếu ưu tiên bám chân thì làm ngược, rãnh cắt ngang hướng đi, nhưng khi đó bắt buộc phải có dốc 1–2% và ga thu ở cuối, nếu không mỗi rãnh sẽ thành một máng nước.
Được, và là một trong những lựa chọn bền nhất nhóm này. Vì mặt đá vẫn phẳng, chỉ khoét rãnh 3–5 mm, tấm không mất nhiều khối lượng nên nhẹ hơn các kiểu gân nổi và neo dễ hơn. Đặt rãnh thẳng đứng để nước mưa trôi, và chọn đá cứng để mép rãnh giữ nét qua nhiều mùa.