
Diamond-scale Relief
Bề mặt vảy trám nổi là những vảy hình trám nổi hẳn lên khỏi mặt đá, xếp so le như vảy cá hoặc tấm đệm chần. Mỗi vảy có sống, có cạnh, có mặt vát rõ ràng nên ánh sáng chia thành nhiều bậc ngay trên một vảy. Độ nổi thường 5–10 mm, buộc phải phay ba chiều nhiều lượt từ phôi dày 30 mm.
Thuộc nhóm khắc nổi hoa văn
Cả mặt đá phủ kín những vảy hình trám nổi lên, xếp so le thành hàng như vảy cá hoặc như tấm đệm chần hình thoi. Mỗi vảy là một khối nhỏ có mặt vát rõ ràng - không phải khối tròn, mà có sống, có cạnh, có đỉnh - nên ánh sáng chia thành nhiều bậc sáng tối ngay trên cùng một vảy. Đây là loại bề mặt phải phay ba chiều nhiều lượt: dao thô bóc khối, dao tinh chạy lại từng mặt vát, cuối cùng sửa tay ở những góc dao không tới. Vì chênh cốt lớn, tấm phải xuất phát từ phôi dày hơn - thường 30mm - nên panel thành phẩm nặng hơn tấm ốp 20mm thông thường, cần tính neo và khung đỡ theo trọng lượng thật. Thợ ốp cũng phải có kinh nghiệm: mạch giữa hai tấm phải khớp đúng nhịp trám, lệch một nhịp là lộ ngay từ xa. Chỉ nên làm trên marble và đá vôi đặc, hạt mịn, không rạn - vảy có cạnh sắc, đá bở là mẻ ngay khi ra khỏi máy. Đá màu sáng, vân ít cho hiệu ứng đẹp nhất, vì lúc này người ta ngắm khối và bóng chứ không ngắm vân; đá vân xoáy mạnh sẽ đánh nhau với hoa văn nổi, cả hai đều mất. Đây là bề mặt để làm một mảng tường đáng nhớ: sau đầu giường, sau lễ tân, mảng thang máy, hoặc mặt tiền có nắng chiếu ngang. Không dùng cho sàn, mặt bàn hay chỗ chạm tay thường xuyên. Muốn nhìn thấy hết vẻ của nó thì phải có đèn đúng: theo kinh nghiệm, đèn rọi xiên khoảng 30 đến 45 độ so với mặt tường là ăn nhất, còn đèn chiếu chính diện sẽ làm mặt đá bẹt lại như in hình.
Dòng đá liên quan: Đá Marble → · Đá Limestone →
Yêu cầu thông tinVảy trám nổi so le, có sống có cạnh, ăn đèn rọi xiên
Chênh cốt 5–10 mm kèm cạnh sắc khiến mặt này nguy hiểm khi có người bước lên: bàn chân không đặt phẳng được, còn đỉnh vảy thì mẻ dưới tải. Không có và cũng không nên có chỉ số DIN 51130 cho kiểu bề mặt này; mọi con số chống trượt gắn cho nó đều là gán ghép.
Nên dùng ở
Nên tránh ở
Đá phù hợp
Đá nên tránh
Vảy nhỏ xếp chéo cùng ý tưởng nhưng vảy dẹt, đỉnh phẳng, nổi dưới 3 mm nên từ xa tan thành mảng mịn; vảy trám nổi thì to hơn, có sống có cạnh, nổi 5–10 mm và đọc rõ từng vảy cả từ mười mét. Chần đệm phồng cũng chia ô trám nhưng khối tròn căng, không có cạnh sắc. Ô vuông vát cạnh là ô vuông góc xếp thẳng hàng, không so le.
Đi từ phôi 30 mm nên tấm marble thành phẩm nặng khoảng 65–80 kg/m², so với chừng 54 kg/m² của tấm ốp phẳng 20 mm — nặng hơn quãng 25–45%. Chênh này đủ để phải tính lại neo và đỡ theo trọng lượng thật, không dùng chung bản vẽ neo với tấm phẳng, nhất là ở độ cao trên ba mét.
Đèn rọi xiên khoảng 30 đến 45 độ so với mặt tường là ăn nhất: mỗi vảy có một mặt hứng sáng và một mặt đổ bóng, khối nổi hiện đủ ba bậc sáng tối. Đèn chiếu chính diện làm mặt đá bẹt lại như in hình. Nên chốt vị trí đèn cùng lúc với bản vẽ đá, đừng để chọn sau.
Làm được nhưng phí cả hai thứ. Ở kiểu này người ta ngắm khối và bóng chứ không ngắm vân; đá vân xoáy mạnh sẽ cắt ngang các sống vảy làm mắt không đọc được hình trám nữa. Chọn đá màu sáng vân nhẹ hoặc gần đơn sắc — trắng, kem, xám nhạt — là an toàn nhất cho hiệu ứng nổi.
Sửa được nhưng khó liền mắt. Thợ đục lại cạnh vảy rồi vá bằng keo trộn bột chính loại đá đó, xong chà lại mặt vát; chỗ vá luôn hơi khác bóng vì đá vá không có tinh thể thật. Vì vậy nên đặt dư 5–10% diện tích để thay nguyên tấm khi mẻ rơi vào chỗ ngang tầm mắt.