
Heavy Sandblasted (anti-slip)
Bề mặt phun cát chống trượt là bản phun mạnh tay nhất: tia áp lực cao bóc sạch lớp bóng và để lại lớp hạt li ti đều khắp tấm, mờ hoàn toàn, không chỗ nào bóng hơn chỗ nào. Điểm khiến nó được chọn là độ bám gần như không đổi khi mặt đá ướt.
Thuộc nhóm mài mòn & thổi hạt
Bề mặt này không có hoa văn, không có rãnh - chỉ có hạt. Mặt đá được xử lý bằng tia áp lực cao để bóc đi lớp mặt bóng, để lại một lớp hạt li ti đều khắp tấm, mờ hoàn toàn, không chỗ nào bóng hơn chỗ nào. Nhìn thì đơn giản, nhưng đây lại là một trong những lựa chọn quen tay nhất cho những chỗ có nước. Sờ vào giống giấy nhám mịn: có độ bám rõ nhưng không cắt tay, chân trần đi vẫn dễ chịu. Ướt nước thì độ bám gần như không đổi, khác hẳn mặt bóng vốn trở thành cái bẫy khi có nước. Về màu, đá sẽ nhạt và xám hơn so với khi đánh bóng - đá đen chuyển thành xám than; nếu chủ nhà muốn giữ màu sâu thì phải tính đến chất tăng màu ngay từ lúc chọn. Nhóm đá cứng ăn cách xử lý này đẹp nhất: granite, basalt, quartzite cho hạt đều và bền theo thời gian. Marble đặc cũng làm được nhưng hạt sẽ mềm hơn và bám bẩn nhanh hơn ở chỗ nhiều người đi. Đá vôi bở thì không nên - tia áp lực dễ khoét thành vệt lồi lõm không đều, mất luôn cái hay của bề mặt là sự đồng nhất. Chỗ dùng: sàn phòng tắm, sàn bếp, quanh bể bơi, sân vườn, lối đi ngoài trời, bậc thềm. Vệ sinh nên dùng bàn chải mềm với nước ấm; mặt mờ mà lau bằng khăn khô thì vệt xà phòng đọng lại thành mảng trắng. Nếu công trình cần một con số chống trượt cụ thể để nộp hồ sơ, phải mang chính mẫu đá đó đi thử - cùng một cách gia công, mỗi loại đá cho một kết quả khác nhau.
Dòng đá liên quan: Đá Marble → · Đá Granite → · Đá Quartzite → · Đá Limestone →
Yêu cầu thông tinHạt li ti đều khắp mặt, mờ hoàn toàn, ướt vẫn bám chân
Trong nhóm mài mòn, đây là bề mặt cho độ bám ướt cao nhất, ước tính R11-R12 tương đương chỉ số con lắc PTV trên 36. Đá càng cứng và hạt phun càng to thì số càng cao; hồ sơ nghiệm thu phải có phiếu thử của đúng lô đá chứ không lấy theo tên bề mặt.
Nên dùng ở
Nên tránh ở
Đá phù hợp
Đá nên tránh
Phun cát thường nhẹ tay hơn một bậc, đẹp cho mặt tiền nhưng độ bám ướt thấp hơn. Bề mặt gợn chống trượt dùng gợn nổi thấy được bằng mắt nên bám mạnh hơn nữa mà khó lau hơn; phun cát chống trượt là mức bám cao nhất trong khi mặt đá vẫn phẳng và vẫn lau máy được.
Không rát. Sờ vào giống giấy nhám mịn, có độ bám rõ nhưng không cắt tay, chân trần đi hằng ngày vẫn dễ chịu, đó là lý do nó hay được chọn cho phòng tắm và quanh bể bơi. Nếu thấy rát nghĩa là thợ đã phun hạt quá to, phải yêu cầu làm lại mẫu.
Có, và đây là điều phải nói trước với chủ nhà. Đá đen mài bóng cho đen sâu, phun mạnh xong chuyển thành xám than, chênh lệch thấy rõ ngay trên cùng một tấm. Muốn giữ màu thì phủ chất tăng màu gốc thấm sâu, chấp nhận phủ lại 2-3 năm một lần.
Trên granite, basalt và quartzite thì gần như không, vì lớp hạt do tinh thể cứng tạo ra nên bền cả chục năm. Trên marble và đá vôi thì có: chỗ đi lại nhiều sẽ lì dần sau 3-5 năm và độ bám tụt xuống. Vì vậy chỗ ướt nên chọn đá cứng ngay từ đầu.
Khác ở áp lực máy và cỡ hạt mài. Phun cát thường dùng hạt nhỏ, áp lực vừa, chỉ đủ phá lớp bóng. Bản chống trượt dùng hạt to hơn và áp lực cao hơn nhiều, ăn sâu hơn để tạo lớp hạt bám chân rõ rệt. Đổi lại đá nhạt màu hơn và vân dịu hơn hẳn.