
Cross-woven Wave (basket-weave relief)
Bề mặt sóng đan chéo là hai lớp rãnh sóng chạy theo hai hướng chồng lên nhau: chỗ hai đỉnh gặp nhau thì nhô cao, chỗ hai lòng gặp nhau thì lõm sâu, cho ra mặt đá gợn kiểu nan rổ. Chênh cốt thường 3–6 mm, thô rõ dưới tay và giữ điểm bám cho bàn chân kể cả khi ướt.
Thuộc nhóm khắc nổi hoa văn
Kiểu này khác họ sóng mảnh ở chỗ nó có hai lớp. Một loạt rãnh sóng chạy theo hướng thứ nhất, rồi một loạt nữa chạy chéo qua, và hai lớp đó chồng lên nhau. Chỗ hai đỉnh sóng gặp nhau thì nhô cao, chỗ hai lòng sóng gặp nhau thì lõm sâu — cho ra một bề mặt gợn kiểu nan rổ, các gờ ngắn nối tiếp nhau chứ không thành đường liền. Sờ vào thô rõ, thô hơn hẳn kiểu sóng li ti một lớp, và đó là lý do người ta chọn nó. Bề mặt kiểu này giữ được điểm bám cho bàn chân kể cả khi ướt, và rất giỏi che vết: vệt nước khô, vết chân, vết bẩn ngoài trời nằm trên mặt gồ ghề này thì gần như không ai thấy — nhưng che không đồng nghĩa với sạch, bụi và cặn vẫn nằm trong lòng sóng. Ánh sáng chiếu chéo lên nó thì mặt đá lấp lánh vì mỗi gờ ngắn trả sáng một hướng khác nhau; trên granite đen có tinh thể, hiệu ứng này rất đẹp. Đá phù hợp là nhóm cứng: granite, basalt, quartzite. Hai lý do — thứ nhất, gờ giao nhau là điểm nhỏ và cao, đá mềm thì gờ vỡ; thứ hai, kiểu bề mặt này gần như luôn được dùng ngoài trời hoặc quanh nước, mà đó lại là chỗ đá vôi và marble không nên có mặt. Đá càng đặc hạt càng cho gờ sắc nét lâu. Dùng cho mặt tiền, mảng tường lớn ngoài trời, sàn quanh bể, sân thượng, lối đi. Ba điều cần lưu ý khi thi công: một, bề mặt gồ ghề này giữ bụi trong lòng sóng nên phải tính trước cách vệ sinh (chải và xối, không phải lau khăn); hai, nếu ghép nhiều tấm thì phải thống nhất hướng của cả hai lớp sóng, không thì mạch ghép sẽ lộ thành một đường gãy; ba, bề mặt này không có số liệu chống trượt công bố, nên công trình cần đạt một cấp cụ thể thì phải yêu cầu xưởng làm mẫu và đo trên đúng loại đá của bạn.
Dòng đá liên quan: Đá Marble → · Đá Granite → · Đá Quartzite → · Đá Limestone →
Yêu cầu thông tinHai lớp sóng đan nhau, mặt đá gợn như nan rổ
Đây là kiểu có nhiều độ bám nhất trong nhóm khắc nổi của bộ, vì các gờ ngắn chặn trượt theo mọi hướng chứ không chỉ một chiều. R12 tương ứng góc trượt 27–35°, đúng mức tiêu chuẩn Đức đòi cho sân bể bơi. Dù vậy con số vẫn phải đo trên chính loại đá và độ sâu bạn chọn mới dùng được cho hồ sơ.
Nên dùng ở
Nên tránh ở
Đá phù hợp
Đá nên tránh
Sóng lăn tăn chỉ một lớp rãnh li ti sâu dưới 1 mm, nhám nhưng gần như phẳng; sóng đan chéo có hai lớp chồng nhau nên chênh cốt gấp nhiều lần và bám chân thật khi ướt. Sóng nhám vẫn là sóng chạy một hướng nên có chiều, còn kiểu này mất hướng. Gợn chống trượt nhắm thẳng vào chỉ số kỹ thuật, đan chéo thì vừa bám vừa còn mặt thẩm mỹ.
Không đọng nếu tấm được lát có độ dốc thoát nước 1–2% như mọi sàn ướt, vì lòng sóng nối thông nhau theo cả hai hướng nên nước luôn tìm được đường chảy. Lát phẳng tuyệt đối thì nước sẽ nằm lại trong các hố giao nhau sâu nhất, lâu ngày sinh rêu và cặn vôi rất khó tẩy.
Khó chịu hơn mặt phun cát một cách rõ rệt. Chênh cốt 3–6 mm nghĩa là gan bàn chân cảm nhận từng gờ, đi lâu thấy mỏi. Với sân tắm hay lối vào bể thì đó là đánh đổi hợp lý; còn phòng tắm trong nhà đi chân trần cả ngày thì nên hạ độ sâu xuống 2–3 mm hoặc chọn kiểu bề mặt khác.
Làm được nhưng không nên. Chỗ hai đỉnh sóng gặp nhau là một điểm nhỏ và cao, marble hạt thô sẽ mẻ ngay trên bàn máy hoặc trong lúc vận chuyển. Quan trọng hơn, kiểu này gần như luôn dùng ngoài trời và quanh nước — đúng chỗ marble bị nước mưa axit và clo bể bơi ăn mặt.
Nên đi từ phôi 30 mm. Sau khi phay chênh cốt 5 mm, phần thân còn lại khoảng 25 mm, đủ chịu tải người đi trên lớp vữa. Nếu buộc dùng phôi 20 mm thì phải giới hạn độ sâu dưới 3 mm và thu khổ tấm về quanh 600×600 mm để giảm nguy cơ nứt giữa tấm.