
Rock Face (quarry-split)
Bề mặt đá sần vỡ là mặt đá bị đục cho vỡ thành vô số mảnh nhỏ, chênh cốt khoảng 4-15 mm, các vết vỡ xếp thành dải gần song song nên cả mảng vẫn có một nhịp ngang mờ. Đây là bề mặt bám chân chắc nhất trong bộ TEXTURE+, nhìn cận như khối đá vừa tách khỏi mỏ.
Thuộc nhóm tách vỡ
Mặt đá được đục cho vỡ thành vô số mảnh nhỏ - chỗ nhô chỗ hụt, mép mảnh còn nguyên vết vỡ - và các vết vỡ đó xếp thành những dải gần song song, nên nhìn cả mảng vẫn có một nhịp ngang mờ chứ không hỗn loạn. Nhìn cận thì rất giống một khối đá vừa tách khỏi mỏ, chưa qua tay ai. Bóng đổ lộn xộn nên vân đá gốc bị làm nhòe khá nhiều: cái đẹp ở đây nằm ở chất thô và ở màu, không nằm ở đường vân. Chạm vào thì ráp rõ, không phải kiểu ráp nhẹ như phun cát mà là ráp có gờ. Đây là bề mặt bám chân chắc nhất trong cả nhóm hiệu ứng này, nên nó có chỗ đứng rất thực tế: sàn quanh hồ, bậc thang ngoài trời, lối đi dốc, sân dễ ướt. Với mặt tiền hay tường thô thì nó cho một mảng đá nặng tay, dày dặn, hợp với ngôn ngữ kiến trúc mộc - bê tông trần, gỗ thô, kim khí gỉ. Về đá: granite, basalt và quartzite chịu tốt nhất, mảnh vỡ nhỏ và đều - hãng đã chạy sẵn trên nhiều phiến quartzite. Marble loại đặc, màu tối cũng làm được, đã có mẫu thật trên marble đen. Limestone loại đặc thì được, nhưng travertine nhiều lỗ và marble nhiều mạch mềm phải làm mẫu thử: đá mềm dễ vỡ quá đà, mảnh bung ra thành hố sâu chứ không thành vệt sần đều, và cạnh tấm dễ mẻ khi vận chuyển. Hai điều cần nói thẳng với chủ nhà. Một là rất khó vệ sinh: bụi, cặn và rêu đọng trong các hốc, phải chải bằng bàn chải cứng và nước áp lực chứ lau khăn không sạch. Hai là đừng đặt ở nơi đi chân trần lâu hoặc nơi trẻ nhỏ hay ngồi bò - mặt này ráp thật. Mặt bàn, mặt quầy thì tuyệt đối không. Ngoài trời nên chống thấm để hạn chế rêu và vết nước bẩn ăn vào hốc.
Dòng đá liên quan: Đá Travertine → · Đá Marble → · Đá Granite → · Đá Quartzite → · Đá Limestone →
Yêu cầu thông tinSần vỡ như mặt đá vừa tách khỏi mỏ, bám chân chắc
Mức nhám này tương đương hoặc hơn đá băm nhám, hệ số ma sát ướt DCOF thường trên 0,60. Đủ cho sàn dốc và bậc ngoài trời khi mang giày; với khu chân trần quanh bể bơi còn phải xét phân nhóm chân trần theo DIN 51097 và đo trên chính lô đá mua.
Nên dùng ở
Nên tránh ở
Đá phù hợp
Đá nên tránh
Tách thô cho sống nổi dài theo thớ đá và thiên về mặt đứng; đá sần vỡ vụn hơn, nhịp đều hơn nên dùng được cho sàn. Băm nhám hạt to là vết búa đục theo nhịp đều tăm tắp, còn đá sần vỡ để nguyên mép vỡ tự nhiên. Xói tia nước mạnh thì mép tròn vì nước mài mòn cạnh, không sắc như mép vỡ.
Có, mặt này ráp thật và là kiểu ráp có gờ chứ không ram nhẹ như phun cát. Chênh cốt 4-15 mm với mép vỡ còn nguyên khiến gan bàn chân khó chịu ngay sau vài bước. Ở nhà ở nên để đá sần vỡ cho lối đi mang giày và bậc dốc, còn khu chân trần quanh bể thì dùng bề mặt gợn chống trượt.
Khó hơn hẳn các bề mặt nông. Bụi, cặn và rêu đọng trong hốc sâu tới 15 mm nên phải dùng bàn chải cứng và máy xịt áp lực, hai đến ba lần mỗi năm ở ngoài trời. Đây là điểm cần nói thẳng với chủ nhà từ đầu, cùng với việc nên phủ chống thấm ngay sau khi lắp.
Băm nhám hạt to là hàng loạt vết búa đục theo nhịp đều, nhìn ra bàn tay thợ và ra kỷ luật. Đá sần vỡ để nguyên mép vỡ tự nhiên, mảnh to nhỏ lẫn lộn, nhìn ra khối đá vừa rời mỏ. Về độ bám thì hai bên tương đương, nên chọn theo ngôn ngữ kiến trúc chứ không theo an toàn.
Có rủi ro ở mũi bậc, nhất là với đá mềm. Cách xử lý thường dùng là để mũi bậc phẳng hoặc vát nhẹ và chỉ làm sần phần mặt bậc, vừa giữ độ bám vừa giữ cạnh không sứt. Với đá vôi và travertine thì gần như bắt buộc; granite và basalt mới chịu được mũi bậc để sần nguyên.