
Waterjet Textured
Bề mặt xói tia nước là kiểu hoàn thiện dùng tia nước áp lực rất cao bóc đi khoáng vật mềm trên mặt phiến, để lại phần cứng nổi cao hơn khoảng 1-3 mm. Hình nổi trên tấm đá vì thế chính là cấu trúc khoáng thật bên trong nó, không phải hoa văn do ai vẽ, nên không tấm nào giống tấm nào.
Thuộc nhóm xói tia nước
Bề mặt này không do dao vẽ ra mà do nước. Tia nước áp lực rất cao chạy trên mặt đá, bóc đi những khoáng vật mềm và để lại những phần cứng nổi cao hơn - nên hình nổi trên tấm đá chính là cấu trúc thật bên trong nó, không phải hoa văn do ai vẽ ra. Kết quả là một mặt đá lồi lõm nhẹ, không theo quy luật nào: chỗ mạch thạch anh thì gồ lên và hơi lấp lánh, chỗ khoáng mềm thì hõm xuống và mờ, tất cả đi đúng theo đường vân sẵn có của viên đá. Nói cách khác, đây không phải hoa văn sóng do người thiết kế, nó là bản đồ khoáng vật của chính tấm đá đó - giống mặt đá nằm dưới suối lâu năm. Không tấm nào giống tấm nào, kể cả cùng một lô, và điều này phải nói trước với chủ nhà, vì đó vừa là cái hay vừa là cái khó khi cần nhiều tấm nằm liền mạch nhau. Đá càng có nhiều loại khoáng cứng - mềm xen kẽ thì hiệu ứng càng rõ: granite vân mạnh, quartzite, một số marble và dolomite đều lên đẹp. Đá đồng nhất tuyệt đối thì tia nước chỉ làm nhám đều, không ra được cái gợn này. Đá bở hoặc nhiều mạch yếu thì nên thử mẫu trước - nước có thể khoét sâu quá đúng vào mạch yếu và để lại một đường hõm không mong muốn. Rất được việc ở ngoài trời và chỗ ướt: quanh bể bơi, sân vườn, bậc thềm, lối đi, mặt tiền tầng thấp - vì độ bám cao và vì mặt lồi lõm giúp bụi bẩn tự nhiên trở nên khó thấy; nếu hồ sơ cần một con số chống trượt thì vẫn phải thử chính mẫu đá đó. Trong nhà thì hợp làm mảng tường có đèn rọi xiên. Không nên dùng làm mặt bàn: lồi lõm khiến kê ly, đặt thớt, cắt gọt đều bất tiện.
Dòng đá liên quan: Đá Marble → · Đá Granite → · Đá Quartzite →
Yêu cầu thông tinNước áp lực bóc khoáng mềm, hình nổi là cấu trúc thật của đá
Độ nhám 1-3 mm cho hệ số ma sát ướt DCOF khoảng 0,50-0,65, đủ dùng cho sân, lối đi và bậc thềm ngoài trời. Vì hình nổi phụ thuộc khoáng vật của từng phiến nên con số dao động theo loại đá; hồ sơ cần số liệu thì phải đo trên chính mẫu đá đã chọn.
Nên dùng ở
Nên tránh ở
Đá phù hợp
Đá nên tránh
Bản xói mạnh chạy lâu và sâu hơn, chênh cốt 3-8 mm, chất đá lộ ra thô hẳn; bản này chỉ gợn nhẹ 1-3 mm nên vẫn giữ được nhiều màu và vân gốc. Phun cát chống trượt cho nhám đều khắp mặt không phân biệt khoáng, còn băm nhám hạt mịn là vết búa có nhịp - cả hai đều đoán trước được kết quả, xói tia nước thì không.
Vì hình nổi không do máy vẽ mà do khoáng vật trong từng phiến quyết định. Tia nước bóc khoáng mềm nhanh hơn khoáng cứng, nên chỗ mạch thạch anh gồ lên, chỗ khoáng mềm hõm xuống, đúng theo bản đồ khoáng riêng của tấm đó. Cùng một lô đá vẫn ra khác nhau, phải nói trước với chủ nhà.
Màu thì đậm lại chứ không nhạt, vì tia nước mở lỗ chân đá và bóc đi lớp mặt đã mài bóng. Vân thì mất bớt độ sắc nét: đường vân vẫn còn nhưng bị bóng đổ của gợn 1-3 mm làm nhòe. Đá vân mạnh sau khi xói thường trông trầm và mộc hơn hẳn bản mài bóng.
Phun cát bắn hạt mài lên toàn mặt nên nhám đều khắp, không phân biệt khoáng cứng hay mềm, kết quả đoán trước được. Xói tia nước ăn chọn lọc theo khoáng nên mặt lồi lõm không đều và đi đúng theo đường vân sẵn có. Nói ngắn gọn: phun cát cho một lớp nhám, xói tia nước cho một địa hình.
Nên duyệt, nhất là khi cần nhiều tấm nằm liền mạch nhau. Vì hình nổi là cấu trúc riêng của từng phiến, chọn tấm và sắp thứ tự trước khi gia công sẽ tránh cảnh hai tấm cạnh nhau chênh nhau quá xa về mật độ gợn. Cách làm chuẩn là chụp ảnh phiến, đánh số rồi lên bản vẽ chia tấm.